Chia sẻ
Tùy chọn
Xem
Xem bài viết cuối Chuyển tới bài đâu tiêu chưa đọc
Offline NEU 1975  
#1 Đã gửi : 29/07/2016 lúc 10:34:40(UTC)
NEU 1975


Danh hiệu: Administration

Điểm uy tín (NEU Coin):

Gia nhập: 21-03-2016(UTC)
Bài viết: 23

Cảm ơn: 1 lần
Được cảm ơn: 1 lần trong 1 bài viết
Hiện nay nước ta có khoảng 76 đô thị loại 30.000 dân trở lên và khoảng 400 thị trấn nhỏ. Tổng số dân đô thị là khoảng 25 triệu người, chiếm trên 29% tổng số dân cả nước. Dự kiến đến năm 2010, dân số đô thị sẽ chiếm tới 35-48% trong đó khoảng 50-60% thuộc 3 thành phố lớn như Hà Nội, Hải Phòng, Thành phố Hồ Chí Minh.

Sở dĩ có hiện tượng dân số đô thị tăng nhanh như vậy là do tình trạng thiếu đất canh tác nông nghiệp, thiếu việc làm, thừa lao động và thu nhập thấp ở nông thôn đã tạo ra một luồng di cư từ nông thôn lên thành thị. Dân số đô thị tăng nhanh sẽ tạo ra sức ép về nhà ở, nước sinh hoạt, năng lượng, dịch vụ y tế và song song với nó là lượng chất thải (nước, rác thải) tăng, giảm diện tích cây xanh, diện tích mặt nước, tăng mật độ giao thông và lượng khí thải, bụi chì do đó cũng tăng theo.

Bên cạnh đó, tốc độ công nghiệp hoá ở nước ta cũng tăng rất nhanh (có nơi đạt tới 35-40%/năm). Ngoài những mặt lợi thì tình hình công nghiệp hoá nhanh cũng mang lại những tác động đáng kể đến môi trường: nguồn chất thải độc hại càng lớn, tài nguyên thiên nhiên bị khai thác triệt để, môi trường và tài nguyên càng bị suy thoái thì xác suất xảy ra các sự cố môi trường càng cao. Các khu công nghiệp và nhà máy ở nước ta nhìn chung đều lạc hậu, chưa có thiết bị xử lý chất thải, đổ trực tiếp nước thải ra sông hồ và các khu vực dân cư xung quanh, gây ô nhiễm môi trường, tác động xấu đến sức khoẻ của người lao động cũng như của cộng đồng dân cư.

I. Hiện trạng môi trường đô thị

Từ năm 1995 trở lại đây, các thành phố lớn như Hà nội, Hải Phòng, thành phố Hồ Chí Minh đã tiến hành kiểm tra tình trạng môi trường các nhà máy, doanh nghiệp cũng như các khu dân cư và thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường. Số liệu cụ thể như sau:

1- Hệ thống cấp nước đô thị

Theo kết quả thống kê cho biết, khoảng 70% hệ thống cấp nước đô thị lấy từ nguồn nước mặt, 30% lấy từ nguồn nước ngầm. Hệ thống phân phối nước lại cũ kỹ, hư hỏng, rò rỉ làm thất thoát tới 30-40% lượng nước cung cấp [1]. Như vậy lượng nước máy cung cấp đến người dân đô thị còn thấp (ở các thành phố loại I, tỉ lệ dân số được cung cấp nước máy chiếm 49,2%, ở thành phố loại II tỉ lệ này là 47,1%) [1]. Còn lại phần lớn dân cư tự khoan giếng lấy nước sinh hoạt. Hiện nay, số lượng giếng khoan trên địa bàn các thành phố như Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh là không thể kiểm soát nổi. Chính tình trạng khoan giếng một cách bừa bãi như vậy đã ảnh hưởng không nhỏ đến nguồn nước mặt và nước ngầm gây ô nhiễm nguồn cung cấp nước chính cho các nhà máy nước đô thị.

Để đánh giá mức độ ô nhiễm nguồn nước ở Hà Nội, người ta đã tiến hành phân tích hơn 660 mẫu nước lấy từ 106 giếng khoan cho kết quả là nhiều nơi thuộc khu vực nội thành Hà nội bị nhiễm bẩn NH4 ở mức độ mạnh và rất mạnh (khu vực Tương Mai, Lương Yên, Bách khoa, Ngô Sỹ Liên, đặc biệt là các khu Hạ Đình, Pháp Vân), một số khu vực còn bị nhiễm độc thạch tín.[4]

2- Hệ thống thoát nước thải và vệ sinh môi trường

Tại các khu đô thị, tình trạng sử dụng nhà vệ sinh không hợp tiêu chuẩn vẫn tồn tại (ở Hà Nội là các khu phố cổ, ở thành phố Hồ Chí Minh là các vùng kênh rạch ).

Theo báo cáo chiến lược vệ sinh và thoát nước đô thị Quốc gia cho thấy, ở Hà Nội, số hộ gia đình không có nhà vệ sinh chiếm tới 43%, thành phố Hồ Chí Minh là 18%.[1]

Mặt khác, hệ thống cống thoát nước thải cũng không đúng tiêu chuẩn, không có bất kỳ một hệ thống xử lý nước thải tập trung. Nước thải được đổ trực tiếp vào hệ thống thoát nước chung và đổ ra các ao hồ sông ngòi trong thành phố (ở Hà nội, sông Tô Lịch và sông Kim Ngưu là hai con sông được coi là bẩn nhất với hàm lượng các chất ô nhiễm đều vượt quá tiêu chuẩn cho phép).[4]

3- Hệ thống thoát nước mưa và tình trạng úng lụt

Hệ thống thoát nước mưa ở hầu hết các khu đô thị đều rất kém. Ở Hà nội chỉ cần một trận mưa khoảng 50mm/h sẽ làm cho khoảng 42 điểm trong nội thành   bị ngập nước, đặc biệt là khu vực đường Tôn Đức Thắng, Nguyễn Thái Học…[2]

Nguyên nhân chính của tình trạng úng lụt là do các đường ống thoát nước có đường kính nhỏ, không kịp thoát nước, thêm vào đó là các sông ngòi, ao hồ thoát nước đều bị bồi lấp, tồn tại nhiều lòng chảo trong phạm vi thành phố và do mặt bằng đô thị Hà Nội lại thấp hơn so với mực nước sông Hồng.

4- Hệ thống xử lý chất thải rắn và tình trạng ô nhiễm đất

Kể từ năm 1997, Nhà nước đã có nhiều văn bản về quản lý chất thải rắn ở các khu đô thị và khu công nghiệp nhưng vấn đề này vẫn tồn tại nhiều bức xúc. Trong năm 2000, tổng lượng rác thải đô thị ước tính khoảng 18 nghìn m3/ngày (82% là rác thải sinh hoạt) nhưng mới chỉ thu gom được khoảng 45-55%.[2]

Hiện nay ở các thành phố lớn chưa có biện pháp xử lý rác thải đúng tiêu chuẩn kỹ thuật. Ở Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh đã có xưởng xử lý rác thải hữu cơ nhưng công suất thấp (chỉ bằng 1% lượng rác thải trong thành phố).

Rác thải bệnh viện đang là một vấn đề gây rất nhiều sự chú ý của người dân. Các bệnh viện hầu hết chưa có lò đốt rác hợp vệ sinh. Không những thế khu vực đặt lò đốt rác lại sát ngay khu dân cư, khi đốt dân cư xung quanh sẽ hít phải những mùi rất khó chịu và rất độc hại. Đó là chưa kể đến tình trạng rác thải bệnh viện không được phân loại mà đổ chung với rác thải thông thường không qua xử lý. Đây là nguy cơ lây lan các căn bệnh truyền nhiễm.

Gần đây, ở thành phố Hồ Chí Minh và Hà Nội nhiều bệnh viện đã có lò đốt rác thải hợp tiêu chuẩn vệ sinh y tế nhưng vẫn chưa xử lý hết được lượng chất thải bệnh viện. Ngoài ra ở một số bệnh viện nhỏ do kinh phí còn hạn hẹp nên không có lò đốt rác hoặc nếu có thì cũng không thể đưa vào hoạt động.

Phương pháp xử lý rác phổ biến hiện nay ở các đô thị là chôn ủ tại các bãi rác tập trung. Nhưng hiện nay chưa có bãi rác nào được coi là đảm bảo được vệ sinh môi trường, từ đó gây ô nhiễm đất, ô nhiễm nguồn nước và ô nhiễm không khí khu vực lân cận.

5- Hệ thống giao thông và tình trạng ô nhiễm không khí

Theo số liệu thống kê của sở giao thông Hà Nội, lưu lượng xe ô tô trên các trục đường chính đạt khoảng 3000 - 7000 xe/giờ. Tỉ lệ xe máy, ôtô tăng nhanh, ước khoảng từ 17-20% mỗi năm [3]. Các loại xe phần lớn là cũ kỹ lạc hậu, hệ thống đường lại trong tình trạng quá tải hoặc thiếu sửa chữa, bảo dưỡng, xe thô sơ đi lẫn với xe cơ giới nên các xe phải thường xuyên thay đổi tốc độ, khí thải xả ra nhiều và gây ô nhiễm không khí nghiêm trọng.

+ Ô nhiễm bụi: Hà Nội khoảng 1,2mg/m3, gấp 3 – 4 lần tiêu chuẩn cho phép; Hải Phòng khoảng 1,8mg/m3; thành phố Hồ Chí Minh khoảng1,6mg/m3.[3]

+ Ô nhiễm SO2: Đường Nguyễn Trãi Hà nội lên tới 1,5-7,5 mg/m3 (gấp 3-15 lần tiêu chuẩn cho phép).[3]

+Tiếng ồn: ở Hà Nội, đo lường trên một số trục đường chính cho thấy mức ồn giao thông trung bình trong cả ngày khoảng 75-79 dB; Hải Phòng là khoảng 73-74 dB. [3]

II- Các giải pháp cho môi trường đô thị

1- Biện pháp chống tiếng ồn

Trồng cây xanh ngăn cách giữa khu dân cư với các khu công nghiệp, đường giao thông làm giảm cường độ âm thanh khi lan truyền trong không khí khoảng 15-18dB.

2- Biện pháp điều chỉnh giao thông

- Cải thiện vận tải công cộng như cấu tạo tuyến đường hiệu quả hơn, giá vé thấp hơn, thông tin tốt hơn, dịch vụ phục vụ thường xuyên hơn … Đây là biện pháp cần có sự hỗ trợ tích cực và bù lỗ của chính phủ để đạt được lợi ích lâu dài, làm cho vận tải công cộng trở nên hấp dẫn và thuận tiện hơn cho người dân, giảm tình trạng ách tắc giao thông do lưu lượng xe lưu thông trên đường quá lớn.

- Đặt ít bãi đỗ xe trong thành phố hoặc đánh thuế cao trên các bãi đỗ tự do ở các nơi làm việc, tăng lệ phí đỗ xe. Tuy nhiên với Việt Nam, một nước có mật độ giao thông bằng ô tô còn thấp thì biện pháp này hiện nay chưa thích hợp nếu áp dụng quá cứng nhắc.

- Xây dựng lại các phố, xây đường dành riêng cho người đi xe đạp, tách biệt hẳn với đường dành cho động cơ.

3- Biện pháp giải quyết rác thải

- Cần tìm các nguồn kinh phí đầu tư xây dựng các nhà máy xử lý rác.

- Tiến hành thu gom, phân loại rác ngay từ nguồn tạo chất thải để tái sử dụng.

- Nhà nước cần đầu tư trang thiết bị cho việc vận chuyển thu gom rác thải bởi thực tế cho thấy việc thu gom vận chuyển rác chi phí tới 70-80% tổng chi phí dành cho quản lý kiểm soát chất thải rắn ở đô thị.

- Đối với các nhà máy, nhà nước có thể áp dụng biện pháp quy định mức chuẩn thải và phí xả thải đối với lượng chất thải mà hãng xả ra, yêu cầu các hãng phải lắp đặt các hệ thống xử lý chất thải trước khi đổ ra hệ thống thoát nước thành phố, hệ thống lọc bụi và hấp thụ khí độc hại.

- Kiên quyết di chuyển một số nhà máy xí nghiệp lớn ở nội thành ra khu công nghiệp ở ngoại thành

- Cần phải quan tâm bảo vệ môi trường nước mặt và nước ngầm, xây dựng các nhà máy xử lý rác độc hại, đảm bảo các bãi đổ rác, ủ rác đúng tiêu chuẩn kỹ thuật

Tài liệu tham khảo

[1]- Báo cáo hiện trạng môi trường Việt Nam năm 1997-2000 (Báo cáo trình Quốc hội của Bộ Khoa Học Công Nghệ và Môi trường).

[2]- Báo cáo khoa học của công ty Môi trường đô thị Hà Nội .

[3]- Tài liệu dùng cho khoá học đào tạo của Bộ Giao Thông Vận Tải( 5/1999)

[4]- Hiện trạng môi trường đô thị và các khu công nghiệp Việt Nam (GS. Nguyễn Viết Phổ)

Ai đang xem chủ đề này?
Di chuyển  
Bạn không thể tạo chủ đề mới trong diễn đàn này.
Bạn không thể trả lời chủ đề trong diễn đàn này.
Bạn không thể xóa bài của bạn trong diễn đàn này.
Bạn không thể sửa bài của bạn trong diễn đàn này.
Bạn không thể tạo bình chọn trong diễn đàn này.
Bạn không thể bỏ phiếu bình chọn trong diễn đàn này.

Powered by YAF.NET | YAF.NET © 2003-2022, Yet Another Forum.NET
Thời gian xử lý trang này hết 0,842 giây.

Thông báo

Icon
Error